“Breslau-Elf”: Đội bóng huyền thoại bị lãng quên

Lịch sử tuyển Đức chứng kiến nhiều đội bóng vĩ đại đã đi vào huyền thoại. Điều đó quả không có gì ngạc nhiên khi nền bóng đá nước này đã 3 lần vô địch Châu Âu và 3 lần vô địch thế giới. Những người hùng thành Bern, Munich hay Rome đã trở nên nổi tiếng và luôn được nhắc đến mỗi khi tuyển Đức bước vào một giải đấu lớn. Ngay cả những đội bóng trải qua những thất bại vĩ đại như Tây Đức tại Wembley 1966 hay trong “Trận đấu thế kỷ” ở Mexico cũng đều có những vị trí danh dự trong “Ngôi đền vĩnh cữu” của bóng đá Đức. Nhưng thật nghịch lý, đội tuyển được xem là đội bóng  huyền thoại đầu tiên của Đức lại chẳng được nhiều người biết đến. Số phận của đội bóng huyền thoại ấy, như những gì xảy ra trước thế chiến thứ 2, đã phải cam chịu bị chôn vùi trong quên lãng?

Nhật ký của Herberger là một kho tàng vô giá

Thời cổ xưa, vua dùng luật damnatio memoriae để xóa bỏ toàn bộ sự tồn tại của 1 nhân vật, sự kiện nào đó như thể nó chưa từng tồn tại. Đội bóng Breslau-Elf huyền thoại cũng bị rơi vào tình trạng bị lãng quên như thế trong một thời gian rất dài sau chiến tranh.

Thậm chí, ngay cả địa danh gắn liền với tên gọi của nó ngày nay cũng không còn tồn tại hay gắn liền với nước Đức. Nếu một ai đó thử dùng công cụ tìm kiếm google tra từ Breslau, họ sẽ được dẫn đến Wrocław, tên của một thành phố thuộc Ba Lan, hoặc một kết quả tìm kiếm nào đó không hề liên quan đến bóng đá.

Đội bóng này sẽ không được biết đến nếu không có vị HLV xuất sắc nhất trước chiến tranh của Đức, người được xem là cha đẻ của chính đội bóng này. Đặc biệt, kể từ ngày nó trở nên nổi tiếng, tất cả những gì xảy ra đã được vị HLV này ghi lại. Nhờ vào những ghi chép tỉ mỉ của Josef “Sepp” Herberger, cựu HLV đội tuyển quốc gia (đã mất trong năm 1977), và được cất giữ trong kho lưu trữ của Liên đoàn bóng đá Đức (DFB), câu chuyện về đội bóng huyền thoại của Đức trước chiến tranh đã được đưa ra ánh sáng.

Hãy cùng ngược dòng lịch sử hơn 3/4 thế kỷ để tìm hiểu về một trong những đội bóng huyền thoại của bóng đá Đức: “Đội bóng Breslau”.

Cú sốc Berlin – Olympic 1936

Bóng đá Đức trước thập nhiên 30 của thế kỷ 20 chỉ là một nền bóng đá non trẻ. Ngoài việc chưa có tên tuổi trên bản đồ bóng đá Châu Âu, đội tuyển Đức cũng chưa tìm ra được một lối chơi riêng cho mình.

Ở thập niên 30, Schalke 04 chính là CLB mạnh nhất nước Đức. Với “hệ thống Kreisel” (tạm dịch là chiến thuật con quay, một thứ bóng đá dựa trên sự phối hợp liên tục giữa các cầu thủ bằng cách chuyền bóng ngắn cho nhau để tấn công về phía đối thủ), S04 thống trị làng bóng đá Đức thời kỳ trước và trong chiến tranh với 6 lần vô địch quốc gia từ năm 1933 đến 1942. Lẽ ra, đội tuyển Đức sẽ được xây dựng quanh nòng cốt những cầu thủ xuất sắc của S04 như đội trưởng Fritz Szepan, Ernst Kuzorra, Aldolf Urban hay Rudi Kupfer. Nhưng Otto Nerz, vị HLV đầu tiên của đội tuyển quốc gia không thích CLB này, hay nói đúng hơn là không thích lối chơi của Schalke 04. Đơn giản, Nerz là người ưa thích thứ bóng đá của người Anh với lối chơi nhanh, sức mạnh và luôn luôn đưa bóng về phía khung thành đối phương. Tuyển Đức dưới thời HLV này cũng được xây dựng trên thứ bóng đá của người Anh, và tất nhiên những cầu thủ Schalke 04 không hợp với nó cũng như không được trọng dụng nhiều (ngoại trừ đội trưởng Szepan vì quá xuất sắc).

Sau thành tích bất ngờ giành hạng 3 thế giới ở World Cup 1934, tuyển Đức của Otto Nerz bắt đầu được biết đến. Chính vì thế, tuyển Đức được kỳ vọng rất lớn để giành tấm huy chương vàng ở kỳ Olympic 1936 tại thủ đô Berlin.

Nước Đức lúc này đang trong thời Đức quốc xã. Với Führer (Lãnh tụ) Hitler, một người chẳng biết gì về bóng đá thì bộ môn này nói riêng hay các môn thể thao nói chung cũng chỉ là một công cụ để quảng bá cho hình ảnh chính trị. Nhưng bất ngờ đã xảy ra khi tuyển Đức bị Na Uy loại ra khỏi Olympic ngay ở vòng 2 sau thất bại 0:2, trong một trận hiếm hoi mà Hitler đến xem trực tiếp. Kết quả, HLV Nerz phải trả giá cho chức vị của mình và trợ lý Sepp Herberger lên thay thế.

Tuyển Đức bị loại sốc ở Olympic 1936 khiến Otto Nerz (trái) phải nhường vị trí HLV tuyển Đức cho trợ lý Herberger (phải) (ảnh: dfb.de)

Cha đẻ của đội bóng

Otto Nerz dẫn dắt tuyển Đức trong 10 năm. Tất nhiên ông là người chịu trách nhiệm chính cho thất bại ở Olympic mùa hè 1936 tại Berlin. Nhưng ông không phải là người dễ dàng phủi bỏ mọi thứ. Nerz có yêu cầu muốn có một sự chuyển giao từ từ và cùng làm việc với Herberger. DFB chỉ định ông tạm thời rời khỏi cương vị HLV trưởng đội tuyển để tập trung cho công tác giảng dạy tại Học viện thể dục thể thao quốc gia. Dù vậy, Nerz vẫn còn có tiếng nói quyết định cuối cùng trong quá trình tập luyện và chốt đội hình ra sân của tuyển Đức. Trong khi đó, Herberger là người trực tiếp giám sát đội bóng. Tình trạng này kéo dài trong vòng 18 tháng sau cú sốc Olympic tại Berlin, cho đến khi HLV Nerz chính thức rút lui trong năm 1938.

Dù vẫn chưa thể toàn quyền quyết định với đội tuyển nhưng HLV Herberger cũng đã dần dần thổi được một luồn gió mới vào tuyển Đức, đặc biệt là về mặt lối chơi. Bắt đầu từ cuối năm 1936, những cầu thủ Schalke 04 được trọng dụng nhiều hơn. Bộ 3 của Schalke là Adolf Urban, Rudi Gellesch và đội trưởng Fritz Szepan là nòng cốt để “tuyển Đức của Herberger” xây dựng lối chơi theo hơi hướng “hệ thống Kreisel” của chính Schalke 04 và mất dần phong cách người Anh so với đội tuyển dưới thời Otto Nerz.

Tuyển Đức bắt đầu năm 1937 với một trận hòa và mạch 4 trận thắng liên tiếp trước khi gặp Đan Mạch cho trận giao hữu tại Breslau (ngày nay là thành phố Wroclaw của Ba Lan). Ngay sau bữa tiệc tại Zurich để ăn mừng chiến thắng trước chủ nhà Thụy Sĩ, Nerz đưa cho Herberger mẫu giấy nhỏ mà ông đề xuất về đội hình sắp tới gặp Đan Mạch: Jakob – Billmann, Münzenberg – Kupfer, Goldbrunner, Kitzinger – Lehner, Siffling, (Hohmann/Lenz), Szepan, Urban.

Nerz vẫn còn băn khoăn giữa Hohmann và Lenz cho vị trí tiền đạo. Herberger xem qua và sửa 3 chỗ. Ông chọn hậu vệ Paul Janes của Düsseldorf thay vì Billmann,  Rudi Gellesch cho vị trí tiền vệ trung tâm và đầy Siffling lên đá tiền đạo cắm. Ông đưa cho Nerz xem lại và Nerz gật đầu đồng ý. Cả 2 không ngờ rằng đó chính là “tờ giấy khai sinh” cho đội bóng đang trên đường trở thành huyền thoại đầu tiên của nước Đức, trong cái đêm 2/5/1937 tại Zurich, Thụy Sĩ. Đội đội bóng được sinh ra và chơi bóng theo triết lý bóng đá của người cha đẻ Herberger và được sự chứng nhận của “người ông ngoại” Otto Nerz của mình (như cách mà Herberger dùng để gọi vai trò của Nerz đối với đội bóng).

Breslau-Elf 1937: Szepan, Jakob, Gellesch, Lehner, Münzenberg, Goldbrunner, Janes, Siffling, Urban, Kupfer, Kitzinger (ảnh: dfb.de)

Chiến thắng huyền thoại của Breslau-elf

Đan Mạch đang có một đội tuyển tốt, cả Nerz lẫn Herberger khá lo lắng để tiếp tục mạch bất bại của tuyển Đức. Nhưng không ai ngờ rằng mạch chiến thắng liên tiếp dài nhất trong lịch sử DFB sắp được viết ra.

Trận giao hữu giữa chủ nhà Đức và Đan Mạch được tổ chức trên sân Silesian Arena ở Breslau vào lúc 2h chiều ngày 16/5/1937. Đó là ngày chủ nhật của lễ Hạ trần, thời tiết rất ấm, rất lý tưởng để khoảng 40 ngàn khán giả thưởng thức một trận cầu hấp dẫn giữa 2 đội.

Và cũng chỉ mất có 7 phút tại Breslau, Lehner đã nhanh chóng mở tỷ số cho đội nhà với cú vô lê từ cánh trái. Tiếp đó Siffling, chân sút đến từ Mannheim, quê nhà của HLV Herberger ghi liền cú hat-trick trong vòng hơn 10 phút cuối của hiệp 1 để giúp Đức tạm thời dẫn trước Đan Mạch 4:0 sau giờ nghỉ. Chưa dừng lại ở đó, “Pháo thủ Breslau” Siffling ghi tiếp 2 bàn nữa trong hiệp hai để hoàn thành trận đấu “5 sao” cho riêng mình, 5 bàn thắng chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ. Dẫu vậy, đó vẫn chưa là kết quả cuối cùng của trận đấu. Đến phút 70, Urban ghi tên mình lên bảng tỷ số với cú nã đại bác từ xa trước khi đội trưởng Szepan nâng tỷ số lên thành 8:0 sau đường kiến tạo của Siffling. Lúc ấy, trận đấu vẫn còn đến 12 phút và các cầu thủ Đức bắt đầu phô diễn những kỹ thuật cá nhân, cho đến khi HLV Herberger lao ra đường biên để buộc họ thôi làm chuyện đó.

Trận đấu kết thúc với tỷ số không tưởng 8:0 cho tuyển Đức. Đó là trận thắng đậm nhất trong lịch sử Đức ở thời điểm hiện tại. Còn đối với Đan Mạch, cho đến nay đây vẫn là trận thua đậm nhất trong lịch sử của họ.

“Đội bóng Breslau-elf đã chơi theo ý tưởng của tôi (Tôi nghĩ mình đã tạo ra ảnh hưởng trên sân thông qua đội hình xuất phát do chính mình đưa ra.)” – Sepp Herberger

Chỉ có Hitler mới ngăn cản được Breslau-Elf

Đội bóng huyền thoại này kết thúc một năm thi đấu với thành tích 1 hòa và 10 trận thắng, một thành tích xuất sắc nhất trong lịch sử DFB cho đến tận ngày nay. Nhưng đội bóng ấy quá xuất sắc để có thể tồn tại lâu dài. Trong kỳ World Cup 1938, cả Đức và Áo đều lọt vào vòng chung kết và cả 2 được xem là các ứng cử viên cho danh hiệu vô địch. Sau sự kiện Anschluss trong tháng 3/1938, được biết đến như sự sáp nhập của Áo vào Đế chế Đức của Hitler, tuyển Áo rút khỏi World Cup. Còn tuyển Đức của Herberger? Herberger sớm nhận  khuyến cáo từ chủ tịch DFB Felix Linnemann, người cũng nhận chỉ thị từ cấp trên, rằng phải xây dựng một tuyển Đức kết hợp từ các cầu thủ tốt nhất của cả Đức lẫn Áo, với tỷ lệ 6:5 hoặc 5:6. Herberger cảm nhận được rằng ông vừa nhận được “giấy báo tử” cho đội bóng huyền thoại Breslau-elf.

“Để thể hiện rõ ràng sự đoàn kết của chúng tôi với những người Áo, những người đã trở về với đế chế Đức, họ phải được hiện diện. Quốc trưởng đã yêu cầu một tỷ lệ 6:5 hoặc 5:6. Lịch sử chờ đợi ở chúng tôi.” – Felix Linnemann

Breslauelf

Năm thi đấu bất bại duy nhất trong lịch sử đội tuyển Đức

Trên lý thuyết, việc kết hợp giữa 2 đội bóng huyền thoại: Breslau-elf của Đức và Wunderteam của Áo sẽ sinh ra một đội bóng siêu sao Galactico. Nhưng Herberger biết rằng, thực tế là không thể. Đức và Áo là 2 đội bóng thù địch. Sự căng thẳng từ World Cup 1934 hay những tranh cãi từ Olympic mùa hè 1912 ở Thụy Điển vẫn còn đó. Hai hệ thống bóng đá – hai tính cách – hai phe phái – trong một mớ hỗn độn. Hệ quả là đội tuyển Đức, có sự kết hợp với Áo, đã bị loại ngay ở vòng đầu tiên của World Cup sau 2 lượt trận với Thụy Sĩ. Cho đến nay, kỳ World Cup 1938 vẫn được xem là màn trình diễn tệ nhất của bóng đá Đức.

Đội bóng huyền thoại Breslau-elf đã bị hủy hoại ngay trước chuyến đi được kỳ vọng nhất. Breslau-elf đã không thể có được một danh hiệu. Nhưng tên tuổi của nó đã sống mãi và chiếm được trái tim của mọi người sau trận thắng 8:0 lịch sử trước Đan Mạch tại Breslau, cũng như mạch 5 trận thắng liên tiếp sau đó để kết thúc một năm bất bại của tuyển Đức.

“Du khách sau này đến thăm sân Silesian Arena sẽ tưởng nhớ đến trận đấu này như là một trong những ngày vinh quang nhất của bóng đá Đức,” tờ “Fußball” nhận định. Cũng như tất cả các cái tên trong “Breslau-elf” đã được các em học sinh ngày ấy thuộc lòng như đọc bảng chữ cái: Jakob – Janes, Münzenberg – Kupfer, Goldbrunner, Kitzinger – Lehner, Gellesch, Siffling, Urban, Szepan. Không một ai trong số họ có thể sống mãi, nhưng tên tuổi của đội bóng Breslau-elf đã trở nên bất tử.

Đội hình Breslau-Elf:
Thủ môn: Hans Jakob (Jahn Regensburg)
Hậu vệ: Paul Janes (Fortuna Düsseldorf), Reinhold Münzenberg (Alemannia Aachen)
Tiền vệ: Andreas Kupfer (Schweinfurt 05), Ludwig Goldbrunner (Bayern München), Albin Kitzinger (Schweinfurt 05)
Tiền đạo lùi: Rudi Gellesch, Fritz Szepan (cùng của Schalke 04)
Tiền đạo: Ernst Lehner (Schwaben Augsburg), Otto Siffling (Waldhof Mannheim), Adolf Urban (Schalke 04)

Bàn thắng:
1:0 Lehner (7′), 2:0, 3:0, 4:0, 5:0, 6:0 Siffling (33′, 40′, 44′, 48′, 65′), 7:0 Urban (70′), 8:0 Szepan (78′).

This slideshow requires JavaScript.

 

 

This entry was posted in History, Tuyển Đức and tagged , , , , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a comment