50 năm Bundesliga: Mùa bóng 2000-01

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày ra đời Bundesliga, nhà sử học Udo Muras đã tổng hợp lại tất cả các mùa giải trước đây của Bundesliga qua loạt bài “Một câu chuyện thành công: 50 năm Bundesliga” được đăng trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá Đức (DFB) dfb.de. Blog Diemannschaft xin lược dịch lại toàn bộ series bài viết của tác giả Udo Muras để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về lịch sử của giải đấu này. Ở phần này sẽ là tổng hợp về mùa giải thứ 38 của Bundesliga: mùa giải 2000-01.

Andersson (trái) đã ghi bàn thắng đáng giá bằng một chức vô địch (ảnh: dfb.de)

Ngay sau lượt đi của mùa giải đã cho thấy đây là một năm với rất nhiều sự kiện đáng nhớ. Sự kiện đầu tiên thì chẳng lấy làm dễ chịu tí nào. Đó là những ngày thu ảm đạm của bóng đá Đức khi tiêu đề các bài báo hầu như chỉ chạy một tin chính giống nhau. Sau 12 năm, người ta lại có dịp trải nghiệm cuộc đối đầu mới giữa Uli Hoeneß và Christoph Daum. Nhưng lần này không phải là một chiến tâm lý trong cuộc chạy đua đến chức vô địch.

Hoeneß, giám đốc thể thao của Bayern đã gián tiếp bày tỏ sự nghi ngờ về Daum, người gần như sắp được bổ nghiệm làm HLV mới của ĐTQG Đức. Có đúng là Daum nghiện ma túy? Hoeneß không trực tiếp nói ra mà chỉ trả lời một câu hỏi. Ngay sau đó, Hoeneß trở thành mục tiêu của sự chỉ trích vì chưa có bằng chứng. Ông đã nhận được nhiều lời đe dọa và phải cần đến những người bảo vệ trong những trận trên sân khách.

Sử dụng cô-ca-in: Daum phải ra đi

Ngày 20 tháng 10/2000 quả bom đã phát nổ: Daum đã quyết định gửi một mẫu tóc đi xét nghiệm, kết quả là dương tính – việc sử dụng chất cô-ca-in đã được chứng minh, Bayer Leverkusen sa thải Daum ngay lập tức, và vị HLV này buộc phải trốn chạy sang Floria. Trên tất cả, vụ việc đã ảnh hưởng đến khía cạnh thể thao, nhưng mọi thứ vẫn phải tiếp tục thôi: cho đội tuyển quốc gia và cho Bayer Leverkusen.

Vì vậy, từ mùa thu năm 2000 đã bắt đầu những ngày thú vị nhất trong cuộc đời của Rudi Völler. Ngoài nhiệm vụ lấy lại hình ảnh cho đội tuyển quốc gia, ông vẫn còn phải kiêm thêm vai trò HLV cho CLB chủ quản của mình là Bayer Leverkusen, nơi ông đang là giám đốc thể thao của CLB. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử một huấn luyện viên tuyển Đức vừa kiêm nhiệm ở cả đội tuyển và CLB. Điều này đã diễn ra trong 4 tuần. Trong thời gian này, đội tuyển của Völler đã bất bại nên báo chí gọi ông là “Người khổng lồ Rudi”

Cuối tháng 11, ông mới thực sự trở về công việc thứ 2 của mình (HLV trưởng đội tuyển quốc gia) khi Berti Vogts lên nắm quyền dẫn dắt Leverkusen và suýt nữa đã có được chức vô địch mùa thu Bundesliga. Nhưng chức vô địch không chính thức đã thuộc về Schalke 04 sau lượt đi, nơi từng có đến 5 đội thay nhau dẫn đầu BXH. Bayern dường như chưa sẵn sàng cho cuộc đua khi vào kỳ nghỉ Giáng sinh, nhà đương kim vô địch chỉ xếp hạng 3 sau các trận thua trước Rostock và tân binh Bundesliga là Energie Cottbus, đội bóng thứ 4 của Đông Đức trong lịch sử Bundesliga.

Những giây phút “đau tim” kinh điển

Nhưng Bayern mùa này là đội bóng khao khát thành công và họ đã hái quả ngọt vào tháng 5/2001. Không như các đối thủ, họ đang chiến đấu ở 2 mặt trận và đã tiến vào chung kết Champions League, trận đấu sẽ diễn ra 4 ngày sau vòng đấu cuối cùng của mùa giải.

Ngày 19 tháng 5/2001, đội bóng München hành quân đến Hamburg với mục tiêu bảo vệ danh hiệu vô địch: họ đang hơn Schalke 04 3 điểm, nhưng hiệu số bàn thắng/thua lại ít hơn. Bayern đã cầm chân đội chủ nhà và kiếm được 1 điểm cho đến phút 90 của trận đấu. Bất ngờ sau đó vua phá lưới Sergej Barberez đánh đầu mở tỷ số 1:0 cho HSV, và Schalke lúc đó đã thắng Unterhaching 5:3 nên tưởng rằng họ đã là những người vô địch.

Họ đã ăn mừng chức vô địch, chính xác là trong 4:38 phút. Những cổ động viên S04 đã tràn xuống sân, xé lấy những mảnh cỏ thiêng liêng của SVĐ để làm kỷ niệm. Nhưng rồi họ nhìn lên màn hình TV ở SVĐ và thấy rằng trận đấu tại Hamburg vẫn còn tiếp diễn. Nhờ những phương tiện truyền thông hiện đại, các đài truyền hình trả tiền đã tường thuật trực tiếp các trận đấu. Và hàng ngàn khán giả đã tận mắt chứng kiến khoảnh khắc kịch tính và đau tim nhất trong lịch sử Bundesliga.

Kahn muốn đá phạt, Effenberg bảo không!

Trọng tài Markus Merk cho rằng cú đá bóng của cầu thủ Hamburg Tomas Ujfalusi cho thủ môn Matthias Schober là một đường chuyền về và cho Bayern được hưởng một quả đá phạt gián tiếp trong vòng cấm HSV. Oliver Kahn lao lên. Không có ai khát khao chiếc đĩa bạc Bundesliga bằng anh, vì thế anh hỏi đội trưởng Effenberg một cách nghiêm túc rằng liệu anh có thể đá phạt được không. Effenberg đẩy anh ra xa, Kahn nổi điên và gây hấn với các cầu thủ HSV, anh cố gắng làm rối loạn họ trong mức có thể.

Nhưng cú đá phạt mang về chức vô địch lại đến từ một cầu thủ Bayern khác, người trước đó chưa bao giờ ghi bàn cho “Die Rekordmeister”. Cú sút sấm sét của cầu thủ người Thụy Điển Patrik Andersson đã xuyên thủng hàng rào HSV bay thẳng vào lưới. Một khoảnh khắc kỳ diệu và không thể nào quên! Vào, 1:1!

“Nhà vô địch trong lòng khán giả”

Kahn lao thẳng đến cột cờ phạt góc, nhổ cột nó lên và nằm ăn mừng điên dại. Những hình ảnh đó đã in đậm trong tâm trí mọi người lúc đó. Đó là cú hat-trick vô địch Bundesliga thứ 3 của Bayern và cũng là lần thứ 4 trong lịch sử Bundesliga. Và nó cũng kết thúc ảo mộng của đội bóng Die Königsblauen. “Không có chúa trong bóng đá,” giám đốc thể thao Rudi Assauer của S04 đã chua chát cho hay trong thông báo từ chức của mình sau bi kịch đó, kèm theo là những giọt nước mắt đau thương của S04. Tờ Bild sau đó đã gọi Schalke là “Meister der Herzen – Nhà vô địch trong lòng khán giả”, một biệt danh đã trở thành huyền thoại. Cũng như phương châm của Oliver Kahn khi anh bật mí về bí quyết thành công của Bayern: “Luôn luôn cố gắng không ngừng.”

Và họ đã tiếp tục: 4 ngày sau, tại Milan, Bayern đã trở thành CLB Đức gần đây nhất vô địch Champiosn League. Trên chấm phạt đền chống lại Valencia, Oliver Kahn đã đẩy được 3 quả. Chẳng có thắc mắc gì khi anh sau đó trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất năm của bóng đá Đức.

Lẫn trong sự ồn ào, số lượng khán giả lại giảm. Các kênh truyền hình được quyền sắp xếp lịch thi đấu, 1 vòng đấu được chia làm 4. Lấn đầu tiên 1 trận đấu bắt đầu lúc 20h15 ngày thứ 7. Tại khắp các SVĐ, CĐV biểu tình phản đối điều đó. Nhiều hội đã được thành lập, ví dụ như “Pro 15h30” để ủng hộ các trận đấu bắt đầu lúc 15h30. Một mùa giải rất đặc biệt.

Ebbe Sand giành được danh hiệu vua phá lưới nhưng không giúp S04 có được chiếc đĩa bạc (ảnh: kicker.de)

Thống kê mùa giải thứ 38

Bàn thắng: 897 (2,93 bàn/trận)
Vua phá lưới: Sergej Barbarez (HSV), Ebbe Sand (Schalke 04) – cùng 22 bàn
Khán giả: 8.696.712 (28.421 khán giả/trận)
Vô địch: Bayern München
Xuống hạng: SpVgg. Unterhaching, Eintracht Frankfurt, VfL Bochum
Lên hạng: 1. FC Nürnberg, Borussia Mönchengladbach, FC St. Pauli
Số HLV bị sa thải: 9

Bảng xếp hạng

This entry was posted in Bundesliga, History and tagged , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

1 Response to 50 năm Bundesliga: Mùa bóng 2000-01

  1. Unknown's avatar Anonymous says:

    Thanks dàn admin nhà mình
    đọc bài này đúng thời điểm quá, giờ càng hưng phấn hihi :)

Leave a reply to Anonymous Cancel reply